Một Số Thuật Ngữ Viết Tắt Liên Quan Đến CO – Certificate of Original

Giải thích các tiêu chí xuất xứ WO, PE, RVC, CTC, CC, CTH, CTHS, SP, PSRs… trên C/O theo các FTAs (Free Trade Areas)

TDgroup – hình ảnh mẫu trích từ Mr. Đàm Việt

1. WO – Wholly Obtained – Xuất xứ thuần túy là gì?

      Hầu hết các FTA đều quy định hàng hóa có xuất xứ thuần túy (Wholly Obtained) là hàng hóa thu được toàn bộ trong phạm vi lãnh thổ của nước thành viên xuất khẩu hoặc được sản xuất toàn bộ tại nước thành viên xuất khẩu đó. Các sản phẩm liệt kê dưới đây được xem là có xuất xứ thuần túy.

2. PE – Produced Entirely – Sản xuất hoàn toàn từ nguyên liệu “có xuất xứ”:

      Sản xuất hoàn toàn từ nguyên liệu có xuất xứ (Produced Entirely from originating materials) nghĩa là 100% nguyên liệu được sử dụng là nguyên liệu có nguồn gốc, bao gồm: Được sản xuất toàn bộ từ nguyên liệu đáp ứng tiêu chí WO. Được sản xuất toàn bộ từ nguyên liệu đáp ứng tiêu chí RVC, CTC và/ hoặc tiêu chí Công đoạn gia công chế biến cụ thể (SP). Được sản xuất toàn bộ từ các nguyên liệu đáp ứng tiêu chí PE. Được sản xuất toàn bộ từ các nguyên liệu đáp ứng tiêu chí WO, PE hoặc RVC, CTC hoặc SP.

3. RVC – Regional Value Content – Tính hàm lượng giá trị khu vực như thế nào?

      Hàm lượng giá trị khu vực theo đa số FTA (Regional Value Content) là một ngưỡng (tính theo tỷ lệ phần trăm) mà hàng hóa phải đạt được đủ để coi là có xuất xứ. Ngưỡng này có thể khác nhau tùy vào từng FTA, tùy vào mặt hàng mặt hàng cụ thể (ngưỡng phổ biến trong hầu hết các FTA trên toàn cầu là 40%). Mỗi hiệp định thương mại khác nhau sẽ có công thức tính hàm lượng giá trị khu vực khác nhau nhưng đều có 2 cách tính: (i) Tính RVC trực tiếp; (ii) Tính RVC gián tiếp. Hầu hết các FTA hướng tới yếu tố thuận lợi hóa thương mại và cho phép nhà sản xuất, người xuất khẩu tính RVC theo một trong hai cách này.

4. CTC – Change in Tariff Classification – Chuyển đổi mã số HS code:

      Chuyển đổi mã số HS của hàng hóa (Change in Tariff Classification) là sự thay đổi về mã số HS của hàng hóa (ở cấp 2 (hai) số, 4 (bốn) số hoặc 6 (sáu) số) so với mã HS của nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ (bao gồm nguyên liệu nhập khẩu và nguyên liệu không xác định được xuất xứ) dùng để sản xuất ra hàng hóa đó. Chuyển đổi Chương (CC) là cấp độ chặt nhất của CTC. Chuyển đổi Nhóm (CTH) là cấp độ vừa phải. Chuyển đổi Phân nhóm (CTSH) là cấp độ lỏng nhất của CTC. CTC chỉ áp dụng đối với nguyên liệu không có xuất xứ; chỉ áp dụng cho công đoạn sản xuất cuối cùng để hợp nhất các nguyên liệu không có xuất xứ thành hàng hóa.

4.1 Chuyển đổi Chương – CC – Change in Chapter: Có nghĩa là tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm phải trải qua sự chuyển đổi mã số HS ở cấp độ Chương (2 số); là sự chuyển đổi bất kỳ từ 1 Chương đến 1 Chương khác của Biểu thuế.

4.2. Chuyển đổi Nhóm – CTH – hange in Tariff Heading: Có nghĩa là tất cả nguyên liệu không có xuất xứ sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm phải trải qua sự chuyển đổi mã số HS ở cấp độ Nhóm (4 số); là sự chuyển đổi bất kỳ từ 1 Nhóm đến 1 Nhóm khác của Biểu thuế XNK.

4.3. Chuyển đổi Phân nhóm – CTSH – Change in Tariff Sub-Heading: Có nghĩa là tất cả nguyên liệu không có xuất xứ sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm phải trải qua sự chuyển đổi mã số HS code ở cấp độ phân Nhóm (6 số); là sự chuyển đổi bất kỳ từ 1 phân Nhóm đến 1 phân Nhóm khác của Biểu thuế XNK.

5. PSRs – Product Specific Rules – Quy tắc cụ thể mặt hàng:

      Quy tắc cụ thể mặt hàng (Product Specific Rules) là quy tắc áp dụng cho các hàng hóa cụ thể nằm trong danh mục riêng. Quy tắc này yêu cầu nguyên liệu trải qua quá trình chuyển đổi mã số HS code hàng hóa hoặc trải qua một công đoạn gia công cụ thể, hoặc đáp ứng tỷ lệ Phần trăm giá trị hay kết hợp của các tiêu chí vừa nêu để sản xuất ra hàng hóa cụ thể nằm trong danh mục. Khi quy tắc cụ thể mặt hàng cho phép lựa chọn giữa các tiêu chí RVC, CTC, SP, hoặc kết hợp giữa các tiêu chí nêu trên, mỗi nước thành viên FTA cho phép người xuất khẩu hàng hoá quyết định việc sử dụng tiêu chí tương ứng để xác định xuất xứ hàng hoá.

6. GR – General Rule – Quy tắc chung:

       Quy tắc chung (General Rule) là quy tắc áp dụng chung cho tất cả hàng hóa ngoại trừ hàng hóa thuộc danh mục Quy tắc cụ thể mặt hàng. Trong hầu hết các hiệp định hiện nay như ATIGA, AKFTA, AJCEP, AANZFTA, tiêu chí xuất xứ chung là chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp 4 số (CTH) hoặc hàm lượng giá trị khu vực 40% (RVC40). Trong khi đó, Hiệp định ACFTA áp dụng tiêu chí chung là RVC (40) và Hiệp định AIFTA áp dụng tiêu chí chung là RVC (35) kết hợp với tiêu chí CTSH (chuyển đổi mã số hàng hóa cấp 6 số). Một số FTA được ký trước kia sẽ có Quy tắc chung (GR) và Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSRs). Một số FTA chỉ có Quy tắc chung (GR) mà không có Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSRs). Một số FTA được ký sau này, hoặc được sửa đổi từ phiên bản cũ chỉ có Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSRs) bao gồm tất cả các mã HS ở cấp độ 6 số từ Chương 01 đến Chương cuối cùng của Biểu thuế. Những FTA chỉ có PSRs mà không có GR được đánh giá là thân thiện với người sử dụng, dễ tra cứu.

7. SP – Specific Process – Công đoạn gia công, chế biến cụ thể:

       Công đoạn gia công, chế biến cụ thể (Specific Process) quy định nguyên liệu không có xuất xứ phải trải qua một quá trình sản xuất, gia công hoặc chế biến cụ thể tại một bên thành viên FTA. Nếu một sản phẩm A có tiêu chí WO, sản phẩm B có tiêu chí RVC, sản phẩm C có tiêu chí CTC, sản phẩm D có tiêu chí “RVC hoặc CTC” thì sản phẩm E có quy trình sản xuất cụ thể sẽ không phải là một tiêu chí đơn lẻ nào trong bất cứ tiêu chí của A, B, C hoặc D mà sẽ là một quy trình sản xuất được mô tả trong 36 quy định cụ thể, hoặc là quy trình sản xuất cụ thể kết hợp với một/ một vài các tiêu chí được liệt kê ở trên. Ưu điểm của tiêu chí này là “không thay đổi”, nếu tuân theo cùng 1 quy trình sản xuất thì hàng hoá đạt chuẩn sẽ luôn tiếp tục có xuất xứ mà không phụ thuộc vào chi phí nguyên liệu, nhân công và các yếu tố đầu vào khác (như khi tính RVC), cũng không bị ảnh hưởng do thay đổi nguồn cung nguyên liệu (là yếu tố có thể tác động tới tiêu chí CTC).

8. De Minimis – Quy tắc tỷ lệ không đáng kể:

      De Minimis được hiểu là “tỷ lệ không đáng kể nguyên vật liệu không đáp ứng tiêu chí CTC” nhưng thành phẩm vẫn được coi là có xuất xứ nếu tỷ lệ đó không vượt quá ngưỡng X% hoặc trị giá hoặc trọng lượng của thành phẩm. Tỷ lệ được tính bằng trọng lượng hoặc trị giá của nguyên vật liệu không đáp ứng tiêu chí CTC chia cho tổng trọng lượng hoặc trị giá FOB của thành phẩm có sử dụng nguyên vật liệu đó. X% thay đổi tùy theo quy định tại các FTA. Thông thường tỷ lệ này là 10% hoặc trọng lượng hoặc trị giá. Một số FTA có quy định chặt hơn – chỉ cho phép ngưỡng 7% hoặc 8% với một số mặt hàng nhất định.

CHUYÊN VIÊN XUẤT NHẬP KHẨU – KHAI BÁO HẢI QUAN

9. Cumulation – Quy tắc cộng gộp:

      Quy tắc này cho phép nếu hàng hóa có xuất xứ từ một bên tham gia hiệp định khi được sử dụng làm nguyên vật liệu để sản xuất các sản phẩm tiếp theo ở lãnh thổ bên kia thì được coi là có xuất xứ ở bên sản xuất sản phẩm tiếp theo đó.

9.1. Cộng gộp thông thường – Accumulation: Đây là hình thức cộng gộp áp dụng trong tất cả các FTA Việt Nam là thành viên. Đây cũng là hình thức cộng gộp phổ biến nhất trong thương mại thế giới. Nguyên liệu đáp ứng tiêu chí xuất xứ cụ thể quy định cho nguyên liệu đó thì sẽ được cộng gộp 100% trị giá của nguyên liệu vào công đoạn sản xuất tiếp theo để tính xuất xứ cho thành phẩm.

9.2. Cộng gộp toàn bộ/ Cộng gộp đầy đủ – Full Cumulation: Đây là hình thức cộng gộp áp dụng trong các FTA thế hệ mới hoặc áp dụng cho một số nhóm hàng nhất định trong một số FTA như nhóm hàng dệt may trong AJCEP, nhóm hàng dệt may trong AANZFTA. Quy định này cho phép nguyên liệu không nhất thiết phải đáp ứng đúng quy tắc xuất xứ dành cho nguyên liệu đó. Nguyên liệu có thể đáp ứng một phần của tiêu chí xuất xứ (ví dụ không thể đáp ứng tiêu chí RVC 40% mà chỉ có thể đáp ứng tiêu chí RVC 19%) nhưng vẫn được phép cộng gộp vào công đoạn sản xuất tiếp theo để tính xuất xứ cho thành phẩm. Phần được cộng gộp sẽ chỉ là phần giá trị gia tăng thực tế (19%) chứ không phải toàn bộ trị giá của nguyên liệu (100%) như cách tính cộng gộp quy định tại khoản (Cộng gộp thông thường).

9.3. Cộng gộp từng phần – Partial Cumulation: Đây là hình thức cộng gộp được quy định duy nhất trong ATIGA, theo đó nếu nguyên liệu đáp ứng quy định tại khoản (Cộng gộp thông thường) thì áp dụng cộng gộp 100% trị giá của nguyên liệu; nếu nguyên liệu chỉ đáp ứng ngưỡng RVC từ 20 đến 39% thì được cộng gộp đúng số phần trăm thực tế trong khoảng từ 20 đến 39% đó vào công đoạn sản xuất tiếp theo để xác định xuất xứ cho hàng hóa. Trong trường hợp áp dụng “cộng gộp từng phần” ATIGA, nguyên liệu vẫn được cấp C/O mẫu D và sẽ được đánh dấu vào ô “Partial Cumulation” trên C/O. Việc đánh dấu này sẽ giúp Cơ quan hải quan Bên nhập khẩu phân biệt được đây là C/O sử dụng cho mục đích cộng gộp từng phần và C/O này sẽ không được hưởng thuế quan ưu đãi ATIGA.

10. Vận chuyển trực tiếp – Quy định thế nào đối với hàng quá cảnh qua nước thứ ba?

       Tham khảo C/O hàng quá cảnh, C/O hàng chuyển tải qua nước thứ 3. Hàng hóa phải chứng minh đáp ứng quy định về vận chuyển trực tiếp để được hưởng ưu đãi thuế quan FTA. Quy định về vận chuyển trực tiếp tương đối giống nhau trong các FTA khi yêu cầu hàng hóa phải được vận chuyển trực tiếp từ lãnh thổ của Bên thành viên xuất khẩu tới lãnh thổ của bên thành viên nhập khẩu. Trường hợp quá cảnh tại một bên khác (có thể trong hoặc ngoài FTA), việc vận chuyển chỉ được coi là trực tiếp nếu đáp ứng các điều kiện: Quá cảnh là cần thiết vì lý do địa lí hoặc do các yêu cầu có liên quan trực tiếp đến vận tải. Hàng hoá không tham gia vào giao dịch thương mại hoặc tiêu thụ tại nước quá cảnh đó và. Hàng hoá không trải qua bất kỳ công đoạn nào khác ngoài việc dỡ hàng và bốc lại hàng hoặc những công đoạn cần thiết để giữ hàng hoá trong điều kiện tốt.

11. Công đoạn gia công chế biến đơn giản được quy định như thế nào?

      Tham khảo Điều 9 Nghị định 31/2018/NĐ-CP ngày 08/03/2018 Quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về XUẤT XỨ HÀNG HÓA khi làm C/O. Công đoạn gia công chế biến đơn giản là các công đoạn dù được thực hiện độc lập hoặc kết hợp với nhau cũng sẽ được xem là đơn giản và không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hóa tại một nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ. Mỗi FTA sẽ có quy định riêng về danh mục các “công đoạn gia công chế biến đơn giản” mà hàng hóa nếu rơi vào một trong các công đoạn này sẽ không được xét xuất xứ. Danh mục này có thể dài hoặc ngắn, có thể áp dụng cùng với một hoặc một vài hoặc tất cả các tiêu chí xuất xứ, bao gồm WO, PE, RVC, CTC hoặc SP tùy vào quy định cụ thể tại các FTA khác nhau. Các công việc bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển và lưu kho (thông gió, trải ra, sấy khô, làm lạnh, ngâm trong muối, xông lưu huỳnh hoặc thêm các phụ gia khác, loại bỏ các bộ phận bị hư hỏng và các công việc tương tự). Các công việc như lau bụi, sàng lọc, chọn lựa, phân loại (bao gồm cả việc xếp thành bộ) lau chùi, sơn, chia cắt ra từng Phần. Thay đổi bao bì đóng gói và tháo dỡ hay lắp ghép các lô hàng; đóng chai, lọ, đóng gói, bao, hộp và các công việc đóng gói bao bì đơn giản khác. Dán lên sản phẩm hoặc bao gói của sản phẩm các nhãn hiệu, nhãn, mác hay các dấu hiệu phân biệt tương tự. Trộn đơn giản các sản phẩm, dù cùng loại hay khác loại. Lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh. Kết hợp của hai hay nhiều công việc đã liệt kê từ Khoản 1 đến Khoản . Giết, mổ động vật.

12. Phụ kiện, phụ tùng, dụng cụ, Vật liệu đóng gói và bao bì có được tính đến khi xác định xuất xứ không?

      Tham khảo  Điều 10 Nghị định 31/2018/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa. Các FTA quy định khác nhau về việc Phụ tùng, phụ kiện, dụng cụ, Vật liệu đóng gói và bao bì (được sử dụng để bán lẻ hoặc để vận chuyển) có được tính đến khi xác định xuất xứ của hàng hóa hay không.

Nguồn: Mr Đàm Việt

Trung tâm Đào tạo Logistics – Xuất nhập khẩu Thành Đạt

https://tdgroup.edu.vn/

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin tức liên quan